Ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2: Triệu chứng, điều trị và tiên lượng

Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Giai đoạn 2: Triệu Chứng,
Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh có thể điều trị và là một trong những bệnh ung thư có tỷ lệ sống cao. Phát hiện ung thư ở giai đoạn 2 vẫn được coi là phát hiện sớm và tiên lượng sẽ tốt hơn so với những trường hợp phát hiện muộn hơn.
Ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2: Triệu chứng, điều trị và tiên lượngUng thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2: Triệu chứng, điều trị và tiên lượng

Ung thư tuyến tiền liệt được chia thành nhiều giai đoạn dựa trên mức độ lan rộng của ung thư. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và điểm Gleason là những cách để xác định giai đoạn ung thư tuyến tiền liệt.

Ở giai đoạn 2, tế bào ung thư mới chỉ giới hạn ở tuyến tiền liệt nhưng nguy cơ phát triển và di căn cao hơn giai đoạn 1.

Tuy nhiên, ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2 vẫn có nhiều lựa chọn điều trị và tiên lượng chung là rất khả quan.

Tìm hiểu thêm về các giai đoạn ung thư tuyến tiền liệt.

Tỷ lệ sống của người mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh có thể điều trị và là một trong những bệnh ung thư có tỷ lệ sống cao. Phát hiện ung thư ở giai đoạn 2 vẫn được coi là phát hiện sớm và tiên lượng sẽ tốt hơn so với những trường hợp phát hiện muộn hơn.

Tỷ lệ sống tương đối 5 năm của người mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt là 97,5%. Nhưng đối với ung thư tuyến tiền liệt khu trú (ung thư giai đoạn 1 và giai đoạn 2), tỷ lệ sống tương đối 5 năm là gần như 100%. (1) Tỷ lệ sống tương đối 5 năm so sánh tỷ lệ sống thêm ít nhất 5 năm của những người bị ung thư tuyến tiền liệt với người không mắc bệnh.

Tỷ lệ sống tương đối ước tính khả năng sống sót của người mắc bệnh ung thư nhưng lại không tính đến các yếu tố khác, chẳng hạn như việc tuân thủ điều trị và tình trạng sức khỏe tổng thể. Do đó, tiên lượng của mỗi ca bệnh là khác nhau.

Ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2 có chữa khỏi được không?

Khi quá trình điều trị chính kết thúc và không có dấu hiệu ung thư thì sẽ được coi là thuyên giảm. Bác sĩ sẽ đưa ra các phương pháp giúp điều trị tác dụng phụ ngắn hạn và tác dụng phụ lâu dài của việc điều trị.

Bệnh ung thư nào cũng có thể tái phát. Vì vậy, người bệnh sẽ phải tái khám định kỳ để theo dõi tình trạng bệnh. Thông thường sẽ phải làm xét nghiệm PSA để kiểm tra nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt trong máu. Mức PSA cao chưa hẳn đã là dấu hiệu cho thấy ung thư đã tái phát. Nếu mức PSA cao bất thường thì bác sĩ sẽ yêu cầu thực hiện thêm các bước kiểm tra khác, chẳng hạn như chẩn đoán hình ảnh để xác định xem ung thư có tái phát hay không.

>>> Các nguyên nhân khác ngoài ung thư tuyến tiền liệt khiến mức PSA tăng cao.

Điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2

Bác sĩ sẽ đề xuất phương pháp điều trị dựa trên một số yếu tố, gồm có tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng thể và người bệnh có triệu chứng hay không.

Điều trị bước đầu

Trong những trường hợp ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2 phát triển chậm và không có triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị giám sát tích cực, có nghĩa là người bệnh chưa cần điều trị nhưng sẽ phải tái khám định kỳ vài tháng một lần, gồm có thăm trực tràng và làm xét nghiệm PSA. Người bệnh cũng có thể cần sinh thiết tuyến tiền liệt hàng năm.

Điều quan trọng là người bệnh phải tái khám đầy đủ để phát hiện kịp thời những thay đổi về tình trạng bệnh. Nếu như ung thư tiếp tục tiến triển thì sẽ phải tiến hành điều trị.

Có thể phải kết hợp nhiều phương pháp điều trị.

Cắt toàn bộ tuyến tiền liệt

Cắt toàn bộ tuyến tiền liệt là một giải pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt khu trú. Ca phẫu thuật có thể được thực hiện bằng phương pháp mổ mở hoặc phẫu thuật nội soi.

Trong ca phẫu thuật nội soi, bác sĩ đưa ống nội soi có gắn camera và các dụng cụ phẫu thuật vào bụng của người bệnh thông qua các đường rạch nhỏ. Sau đó, bác sĩ dựa trên hình ảnh mà camera cung cấp để cắt bỏ hoàn toàn tuyến tiền liệt cùng túi tinh.

Dù là hình thức phẫu thuật nào, người bệnh cũng sẽ được gây mê toàn thân hoặc gây tê ngoài màng cứng. Bác sĩ thường sẽ cắt cả các hạch bạch huyết gần tuyến tiến liệt và tiến hành sinh thiết xem tế bào ung thư đã lan đến hạch bạch huyết hay chưa.

Sau ca phẫu thuật, người bệnh sẽ ở lại bệnh viện vài ngày. Người bệnh sẽ phải đeo ống thông tiểu trong thời gian này và phải hạn chế hoạt động khoảng vài tuần. Nếu phẫu thuật nội soi thì thời gian nằm viện sẽ ngắn hơn so với mổ mở.

Bác sĩ có thể đưa ống nội soi cùng dụng cụ phẫu thuật qua đường rạch ở đáy chậu (khu vực giữa hậu môn và bìu) thay vì đường rạch ở bụng. Vị trí đường rạch này không được sử dụng phổ biến vì không tiếp cận được các hạch bạch huyết.

Một số rủi ro của phẫu thuật tuyến tiền liệt gồm có:

  • Phản ứng dị ứng với thuốc gây mê
  • Chảy máu, nhiễm trùng hoặc cục máu đông
  • Tổn thương các cơ quan lân cận
  • Tiểu không tự chủ
  • Rối loạn cương dương
  • Phù bạch huyết – tình trạng tích tụ chất lỏng do loại bỏ hạch bạch huyết

Xạ trị

Xạ trị là phương pháp sử dụng phóng xạ để tiêu diệt tế bào ung thư. Có hai hình thức xạ trị chính là xạ trị chùm tia bên ngoài và xạ trị áp sát. Trong xạ trị chùm tia bên ngoài, chùm tia phóng xạ được chiếu từ một thiết bị ở bên ngoài cơ thể đến vị trí có khối u. Người bệnh thường sẽ phải điều trị 5 ngày một tuần trong vài tuần. Các loại xạ trị chùm tia bên ngoài gồm có:

  • Xạ trị không gian 3 chiều theo hình dạng khối u (3D-CRT)
  • Xạ trị điều biến liều (IMRT)
  • Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT)
  • Xạ trị proton

Các tác dụng phụ của xạ trị gồm có:

  • Kích ứng da
  • Vấn đề về tiết niệu
  • Vấn đề về đường ruột
  • Rối loạn cương dương
  • Mệt mỏi
  • Phù bạch huyết

Xạ trị áp sát hay xạ trị bên trong có thời gian điều trị ngắn hơn nhiều so với xạ trị chùm tia bên ngoài. Trong xạ trị áp sát, các nguồn phóng xạ có dạng hạt nhỏ được đưa trực tiếp vào tuyến tiền liệt. Có hai loại xạ trị áp sát là xạ trị áp sát liều thấp và xạ trị áp sát liều cao. Với xạ trị áp sát liều thấp, nguồn phóng xạ sẽ từ từ giải phóng phóng xạ trong nhiều tháng. Với phương pháp xạ trị áp sát liều cao, nguồn phóng xạ sẽ chỉ được để trong cơ thể người bệnh một thời gian ngắn và quá trình điều trị chỉ kéo dài vài ngày.

Các tác dụng phụ của xạ trị gồm có:

  • Nguồn phóng xạ có thể di chuyển khỏi vị trí đặt ban đầu
  • Vấn đề về tiết niệu
  • Vấn đề về đường ruột
  • Rối loạn cương dương

Liệu pháp hormone

Liệu pháp hormone làm giảm nồng độ testosterone – loại hormone cần thiết cho sự phát triển của tế bào ung thư. Liệu pháp hormone không thể chữa khỏi ung thư tuyến tiền liệt nhưng có thể thu nhỏ kích thước và làm chậm sự phát triển của khối u.

Một hình thức liệu pháp hormone để điều trị ung thư tuyến tiền liệt là phẫu thuật cắt tinh hoàn vì tinh hoàn là cơ quan sản xuất ra testosterone.

Một cách khác để giảm testosterone là sử dụng thuốc đồng vận LHRH. Những loại thuốc này co dạng tiêm và dạng cấy dưới da. Một số ví dụ về thuốc đồng vận LHRH là:

  • goserelin (Zoladex)
  • histrelin (Vantas)
  • leuprolide (Eligard, Lupron)
  • triptorelin (Trelstar)

Một nhóm thuốc khác là thuốc kháng androgen đường uống ví dụ như:

  • bicalutamid (Casodex)
  • enzalutamid (Xtandi)
  • flutamid (Eulexin)
  • nilutamid (Nilandron)

Một số tác dụng phụ của liệu pháp hormone là:

  • Giảm ham muốn tình dục hoặc rối loạn cương dương
  • Teo tinh hoàn và dương vật
  • Bốc hỏa
  • Vú nhạy cảm
  • Loãng xương, thiếu máu hoặc tăng mức cholesterol
  • Giảm khối cơ
  • Tăng cân
  • Mệt mỏi
  • Trầm cảm

Enzalutamide còn có thể gây tiêu chảy và chóng mặt.

Thuốc kháng androgen thường ít gây tác dụng phụ về chức năng tình dục hơn so với thuốc đồng vận LHRH và phẫu thuật cắt tinh hoàn. Nhiều tác dụng phụ của liệu pháp hormone có thể điều trị được.

Triệu chứng ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2

Giai đoạn đầu của bệnh ung thư tuyến tiền liệt thường không biểu hiện triệu chứng. Khi sang đến giai đoạn 2, người bệnh có thể gặp các triệu chứng nhẹ như:

  • Tiểu khó
  • Máu trong tinh dịch
  • Đau hoặc khó chịu ở vùng chậu

Biến chứng của ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tuyến tiền liệt và các phương pháp điều trị có thể gây rối loạn tiểu tiện và rối loạn cương dương.

Một khi ung thư lan ra bên ngoài tuyến tiền liệt thì các tế bào ung thư có thể lan đến các mô lân cận, hệ bạch huyết hoặc máu. Từ đây, ung thư có thể di căn đến các vị trí ở xa. Ung thư tuyến tiền liệt các giai đoạn sau sẽ khó điều trị hơn và tiên lượng cũng kém hơn.

Tiên lượng ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2

Tiên lượng ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2 thường khá tốt. Ở giai đoạn này, ung thư vẫn chỉ khu trú ở tuyến tiền liệt và vì thế nên vẫn điều trị được.

Mặc dù tiên lượng của mỗi ca bệnh là khác nhau nhưng nghiên cứu ước tính rằng gần 100% người mắc ung thư tuyến tiền liệt khu trú, chẳng hạn như ở giai đoạn 2, có thể sống thêm ít nhất 5 năm.

Các lựa chọn điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 2 gồm có phẫu thuật, xạ trị và liệu pháp hormone. Mặc dù đều đi kèm tác dụng phụ ngắn hạn nhưng các phương pháp điều trị này giúp loại bỏ các tế bào ung thư hoặc kiểm soát sự phát triển của tế bào ung thư, nhờ đó kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.